Tỉnh đoàn Hòa Bình xin đăng toàn văn Nghị quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XII Đảng cộng sản Việt Nam, nhiệm kỳ 2016 - 2020 và toàn văn Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020.
NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XII

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 20/01/2016 đến ngày 28/01/2016, tại Thủ đô Hà Nội, sau khi thảo luận các văn kiện do Ban Chấp hành Trung ương khóa XI trình,

QUYẾT NGHỊ
I- Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá tình hình 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI (2011 - 2015) và phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2016 - 2020 nêu trong Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI trình Đại hội:

1- Đánh giá tổng quát kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XI và nhìn lại 30 năm đổi mới
Năm năm qua (2011 - 2015), bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến rất phức tạp; kinh tế thế giới phục hồi chậm; khủng hoảng chính trị ở nhiều nơi, nhiều nước; cạnh tranh về nhiều mặt ngày càng quyết liệt giữa các nước lớn tại khu vực; diễn biến phức tạp trên Biển Đông,... đã tác động bất lợi đến nước ta. Trong nước, ngay từ đầu nhiệm kỳ, cùng với những ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, những hạn chế, khiếm khuyết vốn có của nền kinh tế, những hạn chế, yếu kém trong lãnh đạo, quản lý và những vấn đề mới phát sinh đã làm cho lạm phát tăng cao, ảnh hưởng nghiêm trọng đến ổn định kinh tế vĩ mô, tốc độ tăng trưởng và đời sống nhân dân. Thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu gây thiệt hại nặng nề. Nhu cầu bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội ngày càng cao. Đồng thời, chúng ta phải dành nhiều nguồn lực để bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền đất nước trước những diễn biến mới, phức tạp của tình hình khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng và đạt được những thành quả quan trọng.

Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, quy mô và tiềm lực được nâng lên; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức hợp lý, từ năm 2013 dần phục hồi, năm sau cao hơn năm trước. Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và thực hiện ba đột phá chiến lược được tập trung thực hiện, bước đầu đạt kết quả tích cực. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, xã hội, y tế có bước phát triển. An sinh xã hội được quan tâm nhiều hơn và cơ bản được bảo đảm, đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững hòa bình, ổn định. Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hiệu quả. Vị thế, uy tín quốc tế của nước ta tiếp tục được nâng cao. Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được phát huy. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được chú trọng và đạt kết quả quan trọng.

Tuy nhiên, đổi mới chưa đồng bộ và toàn diện. Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chưa đạt kế hoạch; nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêu phấn đấu để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa đạt được. Nhiều hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, xã hội, y tế chậm được khắc phục. Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Một số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị chuyển biến chậm.

Ba mươi năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt để, là sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; đồng thời cũng còn nhiều vấn đề lớn, phức tạp, nhiều hạn chế, yếu kém cần phải tập trung giải quyết, khắc phục để tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử qua 30 năm đổi mới khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Thành tựu và những kinh nghiệm bài học đúc kết từ thực tiễn đã tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để đất nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới.

2- Mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu quan trọng và nhiệm vụ trọng tâm trong 5 năm 2016 - 2020
Năm năm tới, tình hình thế giới và khu vực sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, tác động trực tiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ và thách thức. Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức tiếp tục được đẩy mạnh. Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á đã trở thành một cộng đồng, tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, có vị trí địa - kinh tế - chính trị chiến lược ngày càng quan trọng; đồng thời, đây cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa một số nước lớn, có nhiều nhân tố bất ổn; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông còn diễn ra gay gắt.

Ở trong nước, thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao. Nước ta sẽ thực hiện đầy đủ các cam kết trong cộng đồng ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước. Thời cơ, vận hội phát triển mở ra rộng lớn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ "diễn biến hòa bình" của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí,...

Để tận dụng, phát huy tốt nhất thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần đoàn kết một lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu, các chỉ tiêu và nhiệm vụ sau:
Mục tiêu tổng quát:

Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn hòa bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

Các chỉ tiêu quan trọng:

- Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 6,5 - 7%/năm. Đến năm 2020, GDP bình quân đầu người khoảng 3.200 - 3.500 USD; tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP khoảng 85%; tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm bằng khoảng 32 - 34% GDP; bội chi ngân sách nhà nước còn khoảng 4% GDP. Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng khoảng 30 - 35%; năng suất lao động xã hội bình quân tăng khoảng 5%/năm; tiêu hao năng lượng tính trên GDP bình quân giảm 1 - 1,5%/năm. Tỉ lệ đô thị hóa đến năm 2020 đạt 38 - 40%.

- Về xã hội: Đến năm 2020, tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 40%; tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65 - 70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 25%; tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; có 9 - 10 bác sĩ và trên 26,5 giường bệnh trên 1 vạn dân; tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 80% dân số; tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 1,0 - 1,5%/năm.

- Về môi trường: Đến năm 2020, 95% dân cư thành thị, 90% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh và 85% chất thải nguy hại, 95 - 100% chất thải y tế được xử lý; tỉ lệ che phủ rừng đạt 42%.

Các nhiệm vụ trọng tâm:

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, trên cơ sở quán triệt và lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện việc thực hiện các quan điểm, nhiệm vụ trên tất cả các lĩnh vực đã nêu trong Báo cáo chính trị và Báo cáo kinh tế - xã hội, cần đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát huy mọi nguồn lực và động lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững; đặc biệt chú trọng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có kết quả các nhiệm vụ trọng tâm sau:

(1) Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

(2) Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

(3) Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược (hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ), cơ cấu lại tổng thể và đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chú trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Chú trọng giải quyết tốt vấn đề cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại ngân sách nhà nước, xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn nợ công.

(4) Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.

(5) Thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của nhân dân. Chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, giải quyết tốt những vấn đề bức thiết; tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm nghèo bền vững. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

(6) Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh.

II- Thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI trình Đại hội XII.
Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tiếp thu ý kiến của Đại hội, phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ tới.

III- Thông qua Báo cáo tổng kết việc thi hành Điều lệ Đảng khóa XI; đồng ý không sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng hiện hành.
Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII hướng dẫn, quy định cụ thể và tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm thi hành nghiêm, thống nhất Điều lệ trong toàn Đảng.

IV- Thông qua Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay". Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII kiên quyết, kiên trì với quyết tâm chính trị cao lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục thực hiện toàn diện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" gắn với việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

V- Thông qua kết quả bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII gồm 200 đồng chí, trong đó 180 đồng chí Ủy viên Trung ương chính thức, 20 đồng chí Ủy viên Trung ương dự khuyết.

VI- Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII và các cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối và những chủ trương nêu trong các văn kiện Đại hội XII.

Đại hội kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đồng bào ta ở nước ngoài phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ra sức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội, mở ra thời kỳ phát triển mới, vẻ vang, tốt đẹp của đất nước, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.


Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 – 2020

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ XVI diễn ra từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 9 năm 2015 tại Cung Văn hoá tỉnh Hòa Bình.
 
QUYẾT NGHỊ
I - Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá tình hình 5 năm 2010 - 2015 và mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhiệm kỳ 2015 - 2020 nêu trong Báo cáo chính trị trình Đại hội
 
1 - Về đánh giá kết quả 5 năm nhiệm kỳ 2010 - 2015
 
Đại hội khẳng định: Năm năm qua trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn, thách thức, song Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình đã đoàn kết, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, giành được những thành tựu quan trọng về KT -XH, QP-AN, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, góp phần vào thành tựu phát triển KT -XH chung của cả nước. Kết thúc nhiệm kỳ Đại hội, có 12/15 chỉ tiêu đạt và vượt so với Nghị quyết Đại hội đề ra, 3/15 chỉ tiêu không so sánh được do Trung ương thay đổi tiêu chí đánh giá, trong đó: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm đạt 9,1%. Đến hết năm 2015: Tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 19,4%, công nghiệp - xây dựng chiếm 54%, dịch vụ chiếm 26,6%; GRDP bình quân đầu người năm 2015 đạt khoảng 36, 5 triệu đồng; Thu ngân sách Nhà nước bình quân hằng năm tăng 13,9%, năm 2015 đạt khoảng 2.250 tỷ đồng; Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới là 16,2%; Tỷ lệ hộ nghèo còn 13,7%. Đời sống nhân dân các dân tộc tiếp tục được cải thiện; văn hoá, xã hội có bước tiến bộ mới; chính trị, xã hội ổn định; QP-AN được giữ vững; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được quan tâm, phương thức lãnh đạo của Đảng có nhiều đổi mới. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố vững chắc, lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ngày càng được nâng cao. Những thành tựu đạt được đánh dấu bước phát triển mới, tạo đà vững chắc cho giai đoạn phát triển tiếp theo.
 
Đạt được những thành tựu trên là do Đảng bộ đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo Nghị quyết Đại hội XI, các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ vào điều kiện cụ thể của tỉnh, thông qua việc đề ra và tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV; sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, hiệu quả của các cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở; sự phối hợp tích cực của các cấp, các ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; sự đoàn kết, nỗ lực khắc phục khó khăn, vượt qua thử thách của các doanh nghiệp và nhân dân các dân tộc trong tỉnh; đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, quản lý, hoạt động của cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; các công trình, dự án quan trọng về kết cấu hạ tầng đã góp phần thúc đẩy phát triển KT -XH, đảm bảo QP -AN.
 
Tuy nhiên, nếu không tính giá trị tăng thêm của Công ty Thủy điện Hòa Bình vẫn còn 2 chỉ tiêu về tăng trưởng và cơ cấu kinh tế chưa đạt chỉ tiêu; một số mặt hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, QP-AN, nội chính, đối ngoại, xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân chưa kịp thời giải quyết.
 
Hạn chế, yếu kém trên đây bắt nguồn từ những nguyên nhân sau:
 
* Về khách quan: Kinh tế thế giới suy thoái, ảnh hưởng đến sự phát triển KT -XH của tỉnh. Chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế, tiềm lực tài chính, khoa học kỹ thuật của tỉnh chưa cao.
 
* Về chủ quan: Một số cấp ủy, chính quyền cơ sở chậm đổi mới phương thức lãnh đạo; chỉ đạo, điều hành, thiếu nhạy bén, còn trông chờ, ỷ lại, chưa sát sao, năng động, sáng tạo trước yêu cầu nhiệm vụ mới. Chất lượng nguồn nhân lực, cải cách hành chính chưa đáp ứng kịp theo yêu cầu phát triển KT -XH của tỉnh. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành có lúc, có việc chưa thật đồng bộ, chặt chẽ, chủ động, kịp thời.
 
Trên cơ sở  đánh giá những mặt được, chưa được, nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trong 5 năm qua, Đại hội rút ra một số bài học kinh nghiệm:
 
Một là, phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc, đoàn kết, thống nhất của Đảng bộ, sự phối hợp của các cấp, các ngành và của cả hệ thống chính trị. Tranh thủ sự giúp đỡ của các ban, bộ, ngành Trung ương đi đôi với việc vận dụng sáng tạo cơ chế, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi để khuyến khích thu hút nguồn lực toàn xã hội cho mục tiêu phát triển.
 
Hai là, đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy trong thực hiện nghị quyết, theo hướng tập trung, sâu sát, kiên quyết, dứt điểm. Xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm trong từng thời kỳ, lựa chọn các giải pháp thực hiện phù hợp, có hiệu quả; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng công vụ và ý thức trách nhiệm phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
 
Ba là, bảo đảm sự đồng bộ, nhất quán trong cụ thể hoá chủ trương, chính sách, cơ chế và biện pháp tổ chức thực hiện. Đổi mới tư duy lãnh đạo về kinh tế, lựa chọn những vấn đề lớn vừa có tính cơ bản, cấp bách có tác dụng đột phá. Đồng thời, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, giải quyết có hiệu quả đảm bảo theo nguyên tắc, đúng Điều lệ, quy định của Đảng và quy chế làm việc của cấp ủy, xử lý công việc linh hoạt, sâu sát, sáng tạo.
 
Bốn là, chú trọng công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện tốt công tác chính trị tư tưởng, công tác tổ chức cán bộ; đổi mới, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị có phẩm chất, đạo đức, gương mẫu, năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
 
2- Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhiệm kỳ 2015 - 2020
 
2.1- Mục tiêu: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc; huy động mọi nguồn lực để phát triển KT -XH nhanh, bền vững; phấn đấu sớm đưa kinh tế tỉnh Hòa Bình đạt trình độ phát triển trung bình của cả nước; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc; đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển; thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới; đảm bảo quốc phòng, giữ vững an ninh trật tự.
 
2.2- Chỉ tiêu chủ yếu:
 
a) Về kinh tế: Giai đoạn 2016 - 2020, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đạt 8,5% - 9%/năm. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội hằng năm bằng khoảng 35% GRDP. Thu ngân sách Nhà nước tăng 17%/năm. Đến năm 2020: GRDP bình quân đầu người đạt 60 - 65 triệu đồng; cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn: Công nghiệp - xây dựng 57,8%, dịch vụ 26,4%, nông nghiệp 15,8%; số doanh nghiệp, hợp tác xã thành lập, hoạt động có hiệu quả tăng gấp 2 lần so với năm 2015; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng 3, 5 lần so với năm 2015; tỷ lệ đô thị hóa đạt 25%; tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới đạt 40% trở lên.
 
b) Về xã hội: Đến năm 2020, tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội dưới 60%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 55% đến 60%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 20% đến 22%; có 8, 5 bác sỹ và 25 giường bệnh trên 1 vạn dân; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 85% dân số; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3,0%/năm.
 
c) Về môi trường: Đến năm 2020, có 95% dân số được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh; 95% chất thải nguy hại, 90%-100% chất thải y tế được xử lý; tỷ lệ che phủ rừng trên 50%.
 
d) Xây dựng Đảng: Hằng năm tỷ lệ số tổ chức cở sở Đảng đạt tiêu chuẩn trong sạch, vững mạnh đạt 50%.
 
2.3- Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu
 
a) Phát triển kinh tế và thực hiện các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước
 
- Thứ nhất: Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Đề án tái cơ cấu kinh tế, đặc biệt là đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông kết nối với thành phố Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Sông Hồng. Tăng cường mở rộng liên kết vùng, trước hết với thành phố Hà Nội nhằm đẩy mạnh thu hút đầu tư, tiêu thụ hàng hóa nông sản và khai thác hiệu quả tiềm năng phát triển du lịch.
 
Tập trung tái cơ cấu đầu tư công, triển khai Luật Đầu tư công, thực hiện kế hoạch đầu tư trung hạn; khuyến khích đầu tư theo hình thức công - tư (PPP); tập trung nguồn vốn cho các công trình trọng điểm, cấp thiết, vốn đối ứng, xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản; khắc phục tình trạng phân bổ vốn dàn trải. Tăng cường phân cấp quản lý đầu tư, thanh tra, kiểm tra, giám sát, đảm bảo chất lượng các công trình.
 
Thực hiện tốt các nhiệm vụ theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về tái cơ cấu các tổ chức tín dụng. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối. Đẩy mạnh các giải pháp khơi thông nguồn vốn tín dụng, tập trung vốn cho vay đối với các ngành, lĩnh vực ưu tiên; kiểm soát chặt chẽ các khoản vay tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao. Tiếp tục thực hiện các chủ trương, giải pháp tái cơ cấu lại các doanh nghiệp Nhà nước, hoàn thành việc đổi mới, sắp xếp các nông trường quốc doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường.
 
- Thứ hai: Lãnh đạo thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược
 
Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ: Nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng các đô thị. Xây dựng đề án và tập trung đầu tư xây dựng đô thị khu vực trung tâm các huyện. Khuyến khích, huy động các nguồn lực đầu tư để nâng cấp các đô thị lên một cấp, thành phố Hòa Bình lên đô thị loại II, trung tâm thị trấn Lương Sơn và trung tâm thị trấn huyện Mai Châu lên đô thị loại IV; khu vực Chợ Bến, huyện Lương Sơn, khu vực Bãi Nai, huyện Kỳ Sơn lên đô thị loại V.
 
Hoàn thành các dự án đường cao tốc Hòa Lạc - thành phố Hòa Bình, đường liên huyện vùng cao Tân Lạc - Lạc Sơn; đường Cun Pheo - Hang Kia - Quốc lộ 6; các tuyến quan trọng khác. Phấn đấu đến năm 2020, hệ thống quốc lộ, đường tỉnh cơ bản đưa vào cấp kỹ thuật; quốc lộ cơ bản đạt tiêu chuẩn đường cấp III; đường tỉnh cơ ban đat câp; giao thông đô thị cơ bản đưa vào cấp; đường huyện cơ bản đạt tiêu chuẩn đường cấp V; đường xã đạt tiêu chuẩn đường cấp VI.
 
Tập trung đầu tư hạ tầng trung tâm hành chính tỉnh; phát triển hạ tầng các khu công nghiệp: Mông Hoá, Yên Quang, Bờ trái Sông Đà, Lạc Thịnh. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án xử lý nước thải và dự án xử lý rác thải tại thành phố Hòa Bình. Nâng cấp hệ thống đê kè chống xói mòn, sạt lở đất nghiêm trọng. Đầu tư nâng cao chất lượng hệ thống lưới điện đảm bảo cấp điện ổn định cho các cơ sở sản xuất, dịch vụ và sinh hoạt của nhân dân. Chú trọng đầu tư xây dựng hạ tầng các lĩnh vực văn hóa, thể thao, giáo dục, y tế, phát thanh truyền hình, thông tin truyền thông đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu đời sống, tinh thần của nhân dân.
 
Phát triển nguồn nhân lực: Tiếp tục thực hiện Chương trình phát triển nguồn nhân lực. Xây dựng và triển khai thực hiện đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tranh thủ tối đa nguồn nhân lực khoa học từ thủ đô Hà Nội và Khu công nghệ cao Hòa Lạc. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong lĩnh vực đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
 
Hoàn thiện thể chế: Trọng tâm là cải cách hành chính, nâng cao trách nhiệm cán bộ, công chức, viên chức nhằm cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh. Tiếp tục tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; nâng cao chất lượng bộ máy dịch vụ công, phát huy trách nhiệm người đứng đầu trong quản lý, thực thi công vụ. Tăng cường tính công khai, minh bạch, nâng cao chất lượng phục vụ của cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Tập trung tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, kinh doanh đối với các doanh nghiệp. Chú trọng thu hút đầu tư, đồng thời rà soát thu hồi giấy phép đối với các doanh nghiệp không thực hiện dự án theo cam kết.
 
- Thứ ba: Phát triển các ngành kinh tế
 
Phát triển nôngnghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao giá trị gia tăng, bền vững gắn với đẩy mạnh thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới. Tập trung thực hiện tốt tái cơ cấu ngành nông nghiệp; áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và tổ chức lại sản xuất. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Tạo sự liên kết giữa nông dân - doanh nghiệp - nhà khoa học - nhà quản lý trong sản xuất nông nghiệp. Thúc đẩy mạnh mẽ vùng trồng cây công nghiệp gắn với mô hình hợp tác chế biến, tạo sự liên kết, hợp tác, phát triển các hợp tác xã hình thành chuỗi sản xuất tiên tiến. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm ngành nông nghiệp bình quân hằng năm đạt 4,5%. Phát triển và hình thành vùng chuyên canh sản xuất rau an toàn, rau sạch đặc sản; mở rộng diện tích, nâng cao chất lượng vùng chuyên canh cây có múi. Tập trung cải tạo vườn tạp thành vườn có các loại cây trồng hiệu quả kinh tế cao. Tăng cường công tác khoanh nuôi, bảo vệ, chăm sóc rừng. áp dụng công nghệ sản xuất mới trong việc nuôi thủy sản.
 
Tiếp tục phát triển công nghiệp với vai trò động lực quan trọng trong phát triển kinh tế, trong đó tập trung thu hút và phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế tạo, công nghiệp phụ trợ, công nghiệp điện tử, may mặc, công nghiệp sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng nhằm tạo thêm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Khuyến khích phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp nông thôn, bảo quản nông sản sau thu hoạch, sản xuất bia, rượu, nước giải khát. Thu hút các dự án đầu tư sử dụng nhiều lao động tại các địa bàn nông thôn. Phát triển các ngành nghề truyền thống gắn với các điểm du lịch và sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Tập trung đầu tư hạ tầng kỹ thuật các khu công nghiệp, quan tâm đầu tư kết nối hạ tầng ngoài hàng rào khu công nghiệp. Phấn đấu nâng tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp trong các khu công nghiệp trên 60%; Khu công nghiệp Lương Sơn và Khu công nghiệp Bờ trái sông Đà là 100%. Tốc độ tăng trưởng GRDP ngành công nghiệp - xây dựng bình quân hằng năm khoảng 9,3% - 10,5%.
 
Tập trung phát triển mạnh các loại hình thương mại và các ngành dịch vụ có lợi thế có giá trị gia tăng cao để trở thành ngành kinh tế quan trọng đóng góp lớn vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Phấn đấu các ngành dịch vụ có tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm đạt 8,9%; tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, bình quân hằng năm tăng 19%; dịch vụ du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh; đến năm 2020, tổng lượng khách du lịch khoảng 3, 3 triệu lượt người. Xây dựng Chiến lược phát triển mạnh ngành du lịch. Huy động các nguồn vốn đầu tư kết cấu hạ tầng, nhằm khai thác hiệu quả các tuyến, điểm du lịch, đặc biệt là Khu du lịch Quốc gia Hồ Hòa Bình, Điểm du lịch Quốc gia Mai Châu và một số nơi có tiềm năng như: Lạc Thủy, Kim Bôi, Cao Phong, Lương Sơn. Tăng cường sự liên kết với các đơn vị du lịch để hình thành các tour, tuyến, điểm du lịch. Chú trọng xây dựng và quảng bá thương hiệu hàng hóa, sản phẩm.
 
- Thứ tư: Phát triển các thành phần kinh tế, doanh nghiệp, thu hút đầu tư; tài chính, tín dụng
 
Khuyến khích các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp phát triển mạnh vào các lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao. Phấn đấutrong 5 năm tới thu hút được 140 dự án đầu tư trong nước với vốn đăng ký là 40.000 tỷ đồng và 40 dự án FDI với vốn đăng ký 2 tỷ USD; đến năm 2020 có 4.000 doanh nghiệp. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến, kêu gọi đầu tư vào những lĩnh vực ưu tiên. Triển khai thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Tích cực vận động, thu hút các dự án ODA, gắn với đẩy nhanh tiến độ và tăng tỷ lệ giải ngân các dự án ODA đang triển khai. Quan tâm phát triển, củng cố và nuôi dưỡng nguồn thu, chống thất thu; chú trọng khai thác, huy động nguồn lực tài chính từ đất đai. Tăng cương công tac thanh tra, kiêm tra tinh hinh châp hanh phap luât vê thuên sách Nhà nước đảm bảo chặt chẽ, hợp lý, tiết kiệm. Hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn, cung cấp đủ vốn tín dụng cho các tổ chức kinh tế.
 
b) Phát triển văn hoá - xã hội
 
- Thứ nhất: Phát triển văn hoá, thể thao, thông tin, truyền thông.
 
Chú trọng việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể các dân tộc; tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá tiềm năng, lợi thế về thiên nhiên, con người, bản sắc văn hóa các dân tộc, tổng hợp kết quả kiểm kê, lập hồ sơ di sản văn hóa trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định công nhận Mo Mường, Chiêng Mường là di sản văn hóa cấp quốc gia; xây dựng lộ trình lập hồ sơ khoa học trình UNESCO công nhận Sử thi Mo Mường là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; thực hiện tốt Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới; chăm sóc, giáo dục và bảo vệ quyền trẻ em. Duy trì, giữ vững 65% làng, bản, tổ dân phố; 76% gia đình và 85% cơ quan, đơn vị, trường học đạt tiêu chuẩn văn hóa. Tăng cường đầu tư cho văn hóa, thể thao. Nâng cao chất lượng hoạt động của báo chí, phát thanh, truyền hình. Chú trọng đầu tư nâng cao chất lượng phương tiện, thiết bị kỹ thuật hiện đại tiên tiến và nội dung các chương trình phát thanh, truyền hình. Tăng cường đảm bảo an toàn thông tin mạng, hạn chế tác động tiêu cực của thông tin mạng internet.
 
- Thứ hai: Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
 
Thực hiện có hiệu quả đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; rà soát, sắp xếp, phát triển các cơ sở giáo dục cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề trong mối liên hệ là vệ tinh để kết nối với các cơ sở đào tạo của thủ đô Hà Nội, đặc biệt là Khu công nghệ cao Hòa Lạc. Đẩy mạnh phong trào học tập thường xuyên, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Tư vấn định hướng nghề nghiệp, giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Duy trì kết quả công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học chống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Xa hôi hóa đầu tư phat triên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo.  đấu đến năm 2020, có 30% trường mầm non, 62% trường tiểu học, 40% trường trung học cơ sở, 26% trường trung học phổ thông đạt chuẩn Quốc gia. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên.
- Thứ ba: Tăng cường chăm sóc sức khoẻ nhân dân, phòng chống dịch bệnh, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và làm tốt công tác dân số.
 
Tiếp tục kiện toàn, củng cố và hoàn thiện hệ thống y tế, đặc biệt là tuyến y tế cơ sở. Thực hiện Chuẩn quốc gia y tế dự phòng tuyến tỉnh, huyện và áp dụng Bộ Tiêu chí quốc gia về y tế cho cấp xã. Nâng cao chất lượng các dịch vụ khám, chữa bệnh cho nhân dân. Thực hiện công bằng, hiệu quả việc tiếp cận sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đặc biệt dịch vụ khám, chữa bệnh. Quản lý chặt chẽ chất lượng khám chữa bệnh, việc kê đơn, sử dụng thuốc, chống lạm dụng thuốc, lạm dụng xét nghiệm, lạm dụng kỹ thuật cao gây tốn kém ảnh hưởng không có lợi đến người bệnh. Phát triển đông dược, dược liệu, nghiên cứu, kế thừa, bảo tồn và phát triển các bài thuốc gia truyền, y học dân tộc. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động y tế. Triển khai mạnh mẽ các biện pháp kiểm soát vệ sinh, an toàn thực phẩm. Duy trì mức sinh thay thế, giảm tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh; đến năm 2020, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 15,5%, đảm bảo tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt trên 95%.
 
- Thứ tư: Phát triển khoa học và công nghệ.
 
Tăng cường sự đóng góp của khoa học và công nghệ vào phát triển lĩnh vực mũi nhọn, khâu đột phá trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế bền vững. Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp và các dịch vụ khoa học và công nghệ, hỗ trợ các doanh nghiệp tích cực đổi mới và làm chủ công nghệ. Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động khoa học và công nghệ, coi trọng việc tập hợp và phát huy năng lực sáng tạo của đội ngũ trí thức, nhà khoa học. Khuyến khích phát minh sáng chế.
 
- Thứ năm: Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
 
Phổ biến, tuyên truyền pháp luật về bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên cho các tầng lớp nhân dân và xã hội, đặc biệt là khu vực lòng hồ sông Đà và hạ lưu Nhà máy Thủy điện Hòa Bình. Thực hiện đồng bộ các giải pháp chủ động ứng phó với thiên tai, biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
 
Quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên, khoáng sản theo quy hoạch, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về môi trường; đến năm 2020 có 100% các khu công nghiệp, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải, rác thải; 100% số cơ sở sản xuất kinh doanh được xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường; 90% chất thải rắn đô thị được thu gom và xử lý đảm bảo vệ sinh; 70-80% chất thải rắn nông thôn được thu gom và xử lý.
 
- Thứ sáu: Quan tâm giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững, hỗ trợ các đối tượng chính sách, bảo đảm an sinh xã hội.
 
Tiếp tục triển khai và thực hiện chính sách xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội theo hướng đa dạng, ngày càng mở rộng đối tượng thụ hưởng. Thực hiện tốt các chính sách về lao động, việc làm, tiền lương, thu nhập. Bảo đảm quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, cải thiện môi trường, điều kiện làm việc cho người lao động. Tổ chức triển khai thực hiện Luật Giáo dục nghề nghiệp, Chiến lược phát triển dạy nghề đến năm 2020, Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn, rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Hỗ trợ học nghề và tạo việc làm cho các đối tượng chính sách xã hội, người nghèo, lao động nông thôn và vùng đô thị hóa.
 
Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động dễ dàng tiếp cận và tham gia các loại hình bảo hiểm, các dịch vụ xã hội cơ bản. Thực hiện tốt chính sách ưu đãi và không ngừng nâng cao mức sống đối với người có công, đảm bảo cho các hộ chính sách đều có mức sống bằng hoặc cao hơn mức trung bình của người dân trên cùng địa bàn nơi cư trú. Đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, y tế, văn hóa, xã hội.
 
- Thứ bảy: Tiếp tục quan tâm phát triển KT -XH, nâng cao đời sống đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và thực hiện chính sách về dân tộc, tôn giáo.
 
Tập trung lồng ghép các chương trình, dự án để đầu tư kết cấu hạ tầng, phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc. Tập trung đào tạo nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số; đào tạo nghề cho lao động nông thôn để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh, bền vững; phát triển văn hóa, giáo dục nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào các dân tộc.
 
Thưc hiên tốt các chủ trương chinh sách của Đảng, Nhà nước về đại đoàn kết dân tộc, công tác dân tộc, tôn giáo. Quản lý, định hướng các hoat đông tôn giáo theo khuôn khổ pháp luật, cảnh giác, đấu tranh với các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để phá hoại sự đoàn kết trong đồng bào các dân tộc.
 
c. QP - AN; công tác .nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí và đối ngoại
 
Tiếp tục lãnh đạo thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương. Xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, nòng cốt là xây dựng các lực lượng vũ trang đủ mạnh, sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống. Kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế và xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc. Chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên các lĩnh vực, nâng cao tinh thần cảnh giác về âm mưu tự diễn biến, tự chuyển hóa, diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Phát huy hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, kiềm chế và từng bước làm giảm tội phạm, tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông. Tăng cường sự phối hợp giữa các ngành trong khối nội chính trong thực hiện nhiệm vụ chính trị. Tập trung làm tốt công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và bổ trợ tư pháp theo chiến lược cải cách tư pháp. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật và hoà giải ở cơ sở. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại của cấp ủy, ngoại giao của Nhà nước và đối ngoại nhân dân.
 
d) Chú trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh và phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc
 
Tập trung chăm lo công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, tăng cường quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay. Đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy trong khâu tổ chức thực hiện nghị quyết, theo hướng tập trung, sâu sát, kiên quyết, dứt điểm. Nâng cao hơn nữa bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng và năng lực của cán bộ, đảng viên, tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh phê phán tư tưởng bảo thủ trì trệ, trông chờ ỷ lại, ngăn chặn suy thoái về chính trị, đạo
 
Hỗ trợ trực tuyến
 
Tin tiêu điểm
Lạc Sơn: Thăm và tặng quà Mẹ Việt Nam Anh hùng Bùi Thị Chửng
Hội LHTN Việt Nam tỉnh Hòa Bình tiếp tục kết nối tặng quà tết tại xã Ngổ Luông, huyện Tân Lạc
Lạc Thủy: Phối hợp tổ chức tặng quà Tết Mậu Tuất 2018
Hội DNT tỉnh Hòa Bình chúc tết Nhân dân xã Đồng Chum, huyện Đà Bắc
Tuổi trẻ tỉnh Hòa Bình động viên, chúc tết các chiến sĩ sẵn sàng trực chiến dịp tết Nguyên đán trên địa bàn
Tin đọc nhiều nhất
Một số trò chơi sinh hoạt tập thể của Đoàn
Nghi thức Đội Thiếu Niên Tiền Phong Hồ Chí Minh
Thi vẽ tranh Vì một môi trường Xanh - Sạch - Đẹp
Danh sách Thường trực Tỉnh đoàn Hòa Bình
Nội dung chương trình "Rèn luyện Đoàn viên" trong thời kỳ mới
 
Liên kết website
 
Phóng sự ảnh
| Giới thiệu | Tỉnh Đoàn Hòa Bình | Tin tức - Sự kiện | Kỹ năng - Nghiệp vụ | Văn bản - Tài liệu | Liên hệ
ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TỈNH HÒA BÌNH
Địa chỉ: 164 Đại lộ Thịnh Lang - Phường Tân Thịnh - TP Hòa Bình - Tỉnh Hòa Bình
Điện thoại: 02183.882.946 - Fax: 02183.883754 - Thư điện tử: doanthanhnien.tdhb@gmail.com